1
Thiền sư Liễu Quán người chấn
hưng Phật giáo xứ Đàng Trong
Bằng Hư
Thiền sư Liễu Quán
Nếu thiền sư Chân Nguyên được
xem là nhân vật chủ chốt trong việc
chấn hưng Phật giáo ở đàng Ngoài
thì Liễu Quán là nhân vật quan
trọng tiêu biểu cho công nghiệp phục
hưng, xiển dương và trực tiếp lãnh
đạo Phật giáo ở đàng Trong…
1. Thiền sư Liễu Quán sinh năm 1670,
trong một gia đình nông dân nghèo tại
làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh
Phú Yên vốn là người họ Lê, pháp
danh là Thiệt Diệu, còn Liễu Quán là
hiệu.
2
Từ năm lên sáu tuổi, Liễu Quán đã mồ
côi mẹ. Tới năm 1682, khi mới 12 tuổi,
khi theo cha đi chùa Hội Tôn lễ Phật,
Liễu Quán đã gặp thiền sư Tế Viên.
Như một cơ duyên trời định, Liễu
Quán cảm mến vị thiền sư chùa Hội
Tôn và nhất quyết xin phụ thân cho
mình xuất gia tại đây. Biết không thể
thay đổi được cậu con trai, cha ông
đành chấp nhận gửi ông lên chùa Hội
Tôn theo Tế Viên tu Phật.
Liễu Quán rất được Tế Viên thương
mến và hết lòng dạy dỗ. Những năm tu
hành tại chùa Hội Viên, ngài chỉ làm
những công việc nhỏ nhặt như gánh
3
nước cũng như hai thực hiện thời khóa
công phu và luật tiểu Sa Di...
Tu tập ở đây được 7 năm thì Tế Viên
viên tịch khi đó Liễu Quán vừa tròn 19
tuổi. Sau khi lo chu tất tang lễ của thầy,
Liễu Quán từ biệt những huynh đệ của
mình ở chùa Hội Tôn rồi một mình lên
đường tìm thầy tiếp tục học đạo.
Năm 1690, Liễu Quán vượt Trường
Sơn ra đất Thuận Hóa, đến xin tu học
với sư với Giác Phong lão tổ ở chùa
Thiên Thọ, núi Hàm Long.
Tuy nhiên, một năm sau đó, Liễu Quán
được tin cha mắc bệnh nặng, vì vậy,
ông xin phép thầy cho phép mình về
nhà để chăm sóc cha cho tròn chữ hiếu.
4
Hằng ngày ông vào rừng lo đốn củi đổi
gạo và thuốc men để chăm sóc cho phụ
thân. Bốn năm sau, năm 1695, cha ông
qua đời. Sau khi lo tang chay và giao
hết nhà cửa hương hỏa cho những
người bà con họ hàng, Liễu Quán lại
tiếp tục lên đường học đạo.
2. Năm 1695, nghe thiền sư Thạch
Liêm tổ chức giới đàn ở chùa Thiền
Lâm, Huế, Liễu Quán tới xin được thụ
giới Sa-Di với đạo hiệu Liễu Quán húy
Thiệt Diệu, thuộc dòng Lâm Tế chánh
tông đời thứ 35.
Năm 1697, thiền sư Từ Lâm làm Đàn
đầu Hòa thượng, Liễu Quán vừa tròn
27 tuổi được thọ giới Cụ Túc và tấn
đàn Tỳ kheo giới.
5
Đắc giới xong, Liễu Quán ở lại đây 2
năm để cầu học những giới pháp đã thọ
cho thật thông suốt, sau đó, tới năm
1699, Liễu Quán đi khắp nơi thăm
viếng nhiều chùa để học hỏi đạo lý, và
quyết định hiến thân cho đời sống đạo,
chẳng quản đạm bạc gian lao.
Năm 1702, Liễu Quán tìm tới gặp thiền
sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn ở núi
Long Sơn, Huế, một vị hòa thượng có
tiếng thông thái khéo dạy người niệm
Phật tham Thiền lúc bấy giờ.
Trước khi chấp nhận Liễu Quán làm
học trò, Tử Dung đã thử nhiều lần và
bắt ông giải thích câu: “Vạn pháp quy
6
nhất, nhất quy hà xứ?” (nghĩa là: Muôn
pháp quy về một, một về đâu).
Câu thoại đầu này làm Liễu Quán suy
nghĩ miên man nhưng vẫn không thể
ngộ ra chân lý thâm diệu trong đó.
Cuối cùng, không còn cách nào khác,
Liễu Quán lại phải trở về chốn cũ Phú
Yên để tịnh tu và tham cứu cho được
câu mà sư Tử Dung giao cho. Liễu
Quán tham quán trong suốt 5 năm liền
mà vẫn chưa làm bung vỡ được thâm ý
của câu thoại đầu nên cảm thấy rất hổ
thẹn.
Một hôm, nhân đọc cuốn Truyền Đăng
Lục, khi đọc đến câu: “Chỉ vật truyền
tâm, nhân bất hồi xứ” (Nghĩa là: Chỉ
7
vật mà truyền tâm, chính vì vậy mà
người ta không hiểu nổi) bỗng nhiên
ông thấy đã tìm ra câu giải đáp mà tổ
Tử Dung mình đã đặt ra, nhưng vì
đường sá xa cách, ông không thể ra
trình bày với Tử Dung chỗ sở ngộ của
mình.
Mãi tới năm 1708, Liễu Quán quyết
định tìm ra núi Long Sơn để gặp tổ Tử
Dung và trình bày kiến giải của mình
để thầy biết về công phu và sự tiến bộ
của ông trong những năm qua. Vừa gặp
thầy, Liễu Quán nói câu: "Chỉ vật
truyền tâm, nhân bất hội xứ" trong
“Truyền Đăng Lục”.
Sư Tử Dung nói: “Ðứng ở hố thăm
buông tay, tự mình chịu lấy, chết rồi
8
sống lại, bấy giờ không ai có thể dối
người”. Liễu Quán nghe xong liền vỗ
tay rồi cười ha hả. Tử Dung liền
nghiêm nét mặt nói: “Không phải vậy
đâu”.
Liễu Quán liền đọc: “Xường chùy
nguyên thị thiết” (nghĩa là cái dùi
nguyên là sắt). Sư Tử Dung lại lắc đầu
đáp: “Cũng không phải vậy đâu”.
Sáng hôm sau, tổ Tử Dung thấy ngài đi
ngang, liền gọi vào và bảo: “Công án
ngày hôm qua chưa xong, hôm nay hãy
nói lại xem sao”. Liễu Quán liều đọc
hai câu: “Sớm biết đèn là lửa, Cơm
chín đã lâu rồi!”. Tổ Tử Dung nghe
xong lấy làm vừa lòng lắm và hết lời
9
khen ngợi công phu tu tập của Liễu
Quán.
Tới năm 1712, khi ông gặp lại tổ Tử
Dung lần thứ 3 khi cùng tới dự đại lễ
Toàn Viện ở tỉnh Quảng Nam, Liễu
Quán đem trình lên tổ Tử Dung bài kệ
Tắm Phật thể hiện chỗ sở ngộ của
mình.
Tử Dung xem xong bài kệ, liền hỏi
Liễu Quán: "Tổ tổ truyền cho nhau,
Phật phật trao cho nhau, chưa rõ truyền
trao cái gì ấy?". Liễu Quán đáp: "Măng
đá mọc chồi dài một trượng, Cây chổi
bằng lông rùa nặng ba cân".
Hòa thượng Tử Dung hỏi tiếp:
"Thuyền trượt trên núi cao, ngựa chạy
dưới đáy biển" nghĩa là gì? Ông đáp:
10
"Trâu đất gãy sừng rống thâu đêm, đàn
cầm không giây gảy suốt ngày". Đến
đây thì tổ Tử Dung rất bằng lòng về sự
tu tập của Liễu Quán.
3. Liễu Quán đắc pháp và được truyền
tâm pháp vào lúc ngài vừa 42 tuổi.
Cũng từ đây, ông bắt đầu sự nghiệp
hoằng dương Phật pháp của mình ở xứ
Đàng Trong.
Nếu thiền sư Chân Nguyên được xem
là nhân vật chủ chốt trong việc chấn
hưng Phật giáo ở Đàng Ngoài thì Liễu
Quán là nhân vật quan trọng tiêu biểu
cho công nghiệp phục hưng, xiển
dương và trực tiếp lãnh đạo Phật giáo ở
đàng Trong.
11
Năm 1722 ông về trụ trì ở tổ đình
Thiền Tôn, Huế. Trong các năm 1733,
1734 và 1735 Liễu Quán mở bốn đại
giới đàn theo lời thỉnh cầu của các tín
đồ. Tới năm 1740 sau khi truyền giới ở
chùa Long Hoa, ông trở lại tổ đình.
Ðương thời chúa Nguyễn Phúc Chu
cảm phục đạo đức và danh tiếng của
Liễu Quá cho triệu ông vào cung,
nhưng ông muốn giữ sự tự tại ở chốn
lâm tuyền nên đã từ chối lời mời mà
không đến. Do đó, chúa và quần thần
hay vào tổ đình Viên Thông để hỏi
đạo, nên núi này mới có tên là núi Ngự.
Mùa Xuân năm 1742 ông lại mở giới
đàn tại chùa Viên Thông. Tuy nhiên,
12
tới tháng 10 năm 1742, ông lâm bệnh
nhưng không có dấu hiệu trầm trọng.
Tháng 10 năm ấy, ông họp các đệ tử
nói: "Ta sẽ ra đi, sứ mạng của ta ở đời
này đã xong".
Các đệ tử khóc òa. Liễu Quán khuyên
bảo: "Tại sao các vị khóc? Chư Phật
còn nhập Niết bàn. Ta cũng vậy, ta đến
đi rõ ràng, về có nơi chốn. Xin đừng
buồn rầu, hãy cố gắng tinh tấn hơn
lên".
Một buổi sáng mùa Đông năm 1742,
tại tổ đình Viên Thông, trước khi mất
mấy ngày, ông sai đệ tử đem bút mực
ra để viết bài kệ như sau: “Thất thập dư
niên thế giới trung, Không không sắc
sắc diệc dung thông, Kim triêu nguyện
13
mãn hoàn gia lý, Hà tất bôn mang vấn
tổ tông? (Ngoài 70 năm trong thế giới,
Không không sắc sắc thấy dung thông,
Ngày nay nguyện mãn về nơi cũ, Nào
phải ân cần hỏi tổ tông).
Viết xong, ông bảo các đệ tử: "Các vị
xem này, ta đến với cõi đời này giản dị
biết bao nhiêu. Ta sẽ ra đi trọn vẹn.
Mai sau các vị hãy áp dụng thực hành
thánh hạnh. Xin hãy cố gắng chớ quên
lời dạy bảo của tôi".
Ngày 22 tháng 11 năm 1742 sau khi
dùng trà, hành lễ buổi sáng, ông hỏi
các đệ tử: “Đã tới giờ Mùi (khoảng 1
đến 3 giờ chiều) chưa”. Các đệ tử đáp
bây giờ vừa đúng giờ Mùi. Liễu Quán
nhắm mắt thị tịch rồi trút hơi thở cuối
14
cùng một cách nhẹ nhàng và thanh
thản.
Sau khi ông mất, Chúa Nguyễn Phúc
Khoát sắc làm bia ký và dựng tháp
phụng thờ ông trên núi Thiên Thai
cạnh tổ đình Thuyền Tôn, xóm Ngũ
Tây với thụy hiệu là Đạo Hạnh Thụy
Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng.
Tháp của ngài được xây gần Tổ đình
Thuyền Tôn, nằm ở phía nam núi
Thiên Thai, trên the đất làng An Cựu,
huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên cũ.
Thiền sư Liễu Quán đã làm cho thiền
phái Lâm Tế trở thành một tông phái
đặc thù và linh động, có một nền móng
vững chắc ở Đàng Trong.
15
Trước khi Liễu Quán xuất hiện, thiền
phái Lâm Tế ở Việt Nam ảnh hưởng
của Trung Quốc. Chính tổ Liễu Quán
đã Việt hóa tất cả từ văn hóa, kiến trúc
và nghi lễ,… của dòng thiền này.
Liễu Quán có bốn người đệ tử nổi tiếng
gồm: Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân
và Từ Chiếu. Bốn người này sau khi
Liễu Quán viên tịch đã tạo lập bốn
trung tâm Hoằng Dương chánh pháp
lớn ở khắp xứ Dàng Trong.
Vì vậy, từ thế kỷ thứ 18 trở về sau đã
dần hình thành và phát triển một thiền
phái có tên là Thiền phái Liễu Quán.
Khi Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về
phương Nam, Thiền phái Liễu Quán
cũng đi dần theo quần chúng ở các
16
vùng đất mới. Cứ như vậy, Thiền phái
Liễu Quán cứ tiếp tục phát triển cho tới
ngày nay.

