HANH DONG

HANH DONG

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

Dân Việt Với Văn Hóa Lúa Nươc




 Đã lập luận vững chắc rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng rất sớm.  Nước Việt  là một nước thuộc vùng Đông  Nam Á . Rồi  theo kết quả khảo cổ  của giới khoa học quốc tế thì khoảng 15.000 năm trước, băng hà bắt đầu tan nước, biển dâng, trở nên nóng và ẩm tạo điều kiện cho cây lúa ra đời  ở Đông Nam Á , khiến cho Đông Nam Á là  quê hương đầu tiên của cây lúa .
  Riêng về cây lúa nước  thì các tài liệu nghiên cứu đều xác nhận người Việt cổ là tổ tiên của nền văn hoá lúa nước thông  qua đồ gốm trộn trấu, đồ đồng, đồ sắt, vào thời kỳ Đông Sơn khoảng 13.000 năm trước trước Công Nguyên.  Di tích nền văn hoá này từng tồn tại ở một số tỉnh Miền Bắc và Miền bắc Trung Việt (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khu vực Đền Hùng, dọc theo sông Hồng, sông Mã và sông Lam .
Khảo cổ cho ta một bộ sưu tập về lưỡi cày,   rồi lưỡi cuốc, lưỡi thuổng, lưỡi xẻng, lưỡi rìu, bằng đồng và bằng sắt vào giữa và cuối thời kỳ Đông Sơn.  Riêng 
 lưỡi cày bằng đồng có tới 4 kiểu dáng, đó là lưỡi cày hình tam giác có họng tra cán to khoẻ được phân bố ở dọc sông Thao; lưỡi cày cánh bầu dục hay  hình thoi được phân bố ở vùng đồng bằng Bắc Việt, lưỡi cày hình thoi được phân bố tập trung ở vùng sông Mã, lưỡi cày hình xẻng vai ngang phân bố ở vùng làng Vạc. 
Cuốc bao gồm lưỡi cuốc có lỗ tra cán, cuốc hình tam giác, cuốc có vai, cuốc chữ U, cuốc hình quạt, v.v. 
Rìu có rìu chữ nhật, rìu tứ diện lưỡi xoè, rìu hình lưỡi xéo, hình bàn chân, rìu lưỡi lệch. 
   Từ  thời Hùng Vương,  nông nghiệp trồng lúa nước chiếm địa vị chủ đạo, trên khắp lãnh thổ từ trung du đến đồng bằng, dọc theo các con sông.  Theo  các nhà khảo cứu thì  cuốc là dụng cụ  được dùng đầu tiên, rồi đến lưỡi cày  thay thế .   Nông nghiệp dùng cày là nguồn cung cấp lương thực chính nuôi sống xã hội Việt. Nói đến lưỡi cày thì phải nghĩ đến  Con Trâu.   Hình trâu và hình bò khắc hoạ trên mặt trống đồng chứng tỏ cư dân thời Hùng Vương đã sử dụng trâu, bò làm sức kéo trong nông nghiệp. Về công cụ gặt hái   thì  liềm là dụng cụ , hiện còn di tích về  liềm thời kỳ Đông Sơn ở làng Vạc chứng tỏ  sự phát triển mạnh mẽ của nghề trồng lúa nước thời Hùng Vương. 
Nghề trồng lúa nước lệ thuộc vào thiên nhiên: mưa lụt bão táp, hạn hán và đòi công sức thật là vất vả mới có miếng ăn.  Biết  khôn ngoan thích ứng với thiên nhiên, người Việt lại nhận ra  năng lực cộng đồng: “Khôn độc không bằng ngốc đàn”, “Một cây làm chẳng nên non”.  Chính vì  vậy,  người Việt  từ  xưa  đã hợp tác  tương trợ lẫn nhau, nên hình thành cộng đồng cư dân có lối sống định cư định canh dưới dạng  làng xã., Những cộng đồng văn hoá làng xã đông đúc quy tụ men theo chân ruộng của vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã , sông Lam… Những hội hè đình đám, lễ lạt trong năm, sinh hoạt văn hoá nghệ thuật cộng đồng đều sản sinh từ văn minh lúa nước. Nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên đã đưa đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của người Việt. 
I-    Đặc điểm  của văn hoá  lúa nước 
1-Ruộng nước
Đầm lầy hoặc đồng  lầy là quê hương  của Lúa nước . Ở đó nước  là nhu cầu cho  Lúa phát triển..
Mực nước từ 100 mm đến 150 mm trong một tháng  cần để giúp cho cây lúa tăng trưởng và kết hạt tốt. Những khu vực đồng bằng và các lưu vực các con sông chảy qua các miền nhiệt đới nhiều mưa sẽ là môi trường thuận lợi cho cây lúa nước phát triển. Ví dụ như đồng bằng sông Hồng... thích hợp cho cây lúa nước. Cây lúa nước năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã... mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp vào các mùa nước lũ.
  2- Nhiệt độ khoảng 21 - 27°C
Nhiệt độ môi trường thích hợp nhất cho Lúa nước phát triển  là  khoảng 21-27°C. Việt Nam có nhiều tháng nhiệt độ này. Cây lúa nước phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới.
3- Giống  loại lúa  nước 
 Giống  loại lúa  nước cũng là một yếu tố tăng năng suất và phẩm chất cho cây lúa nước mà các cư dân trồng lúa nước đặc biệt coi trọng. Người nguyên thuỷ  đã phát hiện ra sự khác nhau về năng suất của các loại  lúa nước, một loại lúa nước mọc ở các triền đất khô ẩm và một loại lúa nước mọc ở khu vực ngập nước của lưu vực các con sông lớn là hoàn toàn khác nhau.
 4- Thời vụ
Để  Nước, Nhiệt độ và Giống lúa  phù hợp với nhau ngõ hầu cho cây lúa nước phát triển, thì Thời vụ  trồng lúa là yếu tố quan trọng
Người Việt trước đây trồng lúa chủ yếu vào vụ mùa, nên gọi là lúa mùa. Về sau, do tiếp xúc với người Chiêm (hay Chăm) nên có thêm lúa chiêm (hay lúa chăm). Như vậy, hằng năm người Việt canh tác lúa vào hai mùa chính: lúa chiêm và lúa mùa. Tục ngữ đã ghi lại cách gọi tên lúa theo hai vụ này: "Chiêm xấp xới, mùa đợi nhau"; "Chiêm bơ bãi, mùa phải thời", nghĩa là mạ chiêm thì có thể cấy chênh nhau về ngày nhưng mạ mùa thì phải đúng thời gian, vào một khoảng nhất định, đó là lúc có sao tua rua. Cũng chính vì vậy, sao tua rua là một trong những ngôi sao làm bạn với nhà nông: "Tua rua đi bắc mạ mùa". 
 Điều này thúc đẩy việc sáng chế ra lịch tính ngày, tháng, năm và các mùa trong năm của các cư dân trồng lúa nước..Âm Lịch (lịch mặt trăng) giúp cho người nhà nông biết nước thuỷ triều lên xuống  như thế nào, để dùng vào việc làm ruộng nước  và để biết ngày tháng  gieo mạ , trồng lúa. 
Nắm vững được  những đặc điểm của nông nghiệp lúa nước, những cư dân Việt  có thể mở rộng  diện tích trồng trọt bằng  hệ thống dẫn thuỷ nhập điền hoặc  hệ thống thuỷ lợi.  Hệ thống dẫn thuỷ nhập điền đảm bảo đủ nước và không thừa  nước, để cây lúa sinh trưởng.  Còn hệ thống thuỷ lợi mở rộng đất đai trồng trọt tăng lượng  thu hoạch lúa hàng năm.  Nói chung thì cả hai hệ thống nêu trên đều chú trọng đắp bờ ruộng và dẫn nước theo các con kênh vào ruộng và khống chế lượng nước bằng độ cao của lối thoát nước. Hệ thống đê điều hai bên sông phải  thường xuyên vững chãi  để  đề  phòng xảy ra mưa lớn, bão, úng, lụt, tràn ngập ruộng  lúa.   Ông cha ta đã bắt đầu đắp đê ngăn lũ lụt từ hàng chục thế kỷ trước.. áp dụng kỷ luật cấy trồng nghiêm ngặt về thời vụ, tưới tiêu, về hạt giống, chăm bón… 
Kỹ thuật trồng lúa nước nghìn năm của người Việt được tổng kết trong 4 chữ “Nước, phân, cần, giống”, ngày nay đã đạt tới trình độ trở thành “tinh hoa” và cụ thể hóa trong các công đoạn: Xếp ải nỏ, chọn giống tốt, gieo mạ khay, cấy mạ non ngửa tay thẳng hàng, tưới nước phù sa theo thuỷ triều, đắp đê tạo ra các kênh tưới tiêu...


5-  Khác biệt  giữa đặc tính của vụ Lúa Mùa và vụ Lúa Chiêm
Các vụ lúa cổ truyền chính vùng Đồng bằng sông Hồng là lúa mùa và lúa chiêm Vụ lúa mùa:
Từ ngữ  "mùa" được dùng để chỉ "thời gian trồng lúa" (mùa lúa) và "thời gian thu hoạch lúa" (mùa màng), rồi chuyển thành tên gọi chỉ một loại lúa (lúa mùa). Vụ lúa mùa  cần nhiều nước nên hàng năm gieo cấy một vụ lúa vào mùa mưa nhiều (hè thu),.
 Vụ lúa mùa: (mùa sớm, mùa trung và mùa muộn), bắt đầu vào cuối tháng 5 và kết thúc vào trung tuần tháng 11 hàng năm.  Vụ lúa mùa (mùa sớm,)sử dụng các giống lúa ngắn ngày, thời gian sinh trưởng từ 105 đến 120 ngày như CR203, Q5, KD18. . . Vụ lúa mùa  (mùa trung và mùa muộn), sử dụng các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ 125 trở lên như Nếp, Dự, Mộc Ttuyền, Bao Thai, Tám thơm các loại.
Vụ lúa chiêm 
Vụ chiêm xuất hiện khi có giống lúa xuất xứ từ đất Chiêm Thành quen chịu khí hậu khô của Trung bộ, được đưa ra Bắc gieo cấy vào mùa ít mưa (đông xuân) rất thích hợp.
Lúa chiêm được gieo cấy vào cuối tháng 10 (vào cuối năm âm lịch) hoặc đầu tháng 11 và thu hoạch vào cuối tháng 5 (hè năm sau).. Làm trong mùa khô, vì vậy phải có nước tưới chủ động. Đầu và giữa vụ thường gặp rét, cuối vụ nóng và bắt đầu có mưa  (mưa rào), nên phải dùng giống có khả năng chịu rét. Lúa chiêm xuân (xuân sớm, chính vụ và xuân muộn) với bộ giống đa dạng, được gieo cấy vào cuối tháng 11 và thu hoạch vào đầu tháng 6 năm sau. Lúa chiêm kỳ làm đòng rất cần các yếu tố dưỡng chất thiên nhiên, trong đó có chất được tạo nên nhờ tác nhân sấm chớp cơn giông. Vì thế, dân gian có câu:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên!”
    
II- Dấu ấn văn hoá lúa nước của người Việt thể hiện qua tục ngữ 
               khá rõ  . 
1-  Cây lúa 
I/-   Các từ gọi tên cây lúa 
Cây lúa đến thời kì chín rộ, có màu vàng mơ, Nếu hạt lúa còn ở trên cây chưa thu hoạch thì gọi là hạt lúa. 
tục ngữ "Lớn bát cơm, to bó lúa",
 Từ lúa có biến thể ngữ âm là ló 
tục ngữ "Khôn như tiên không tiền cũng dại, dại như chó có ló cũng khôn".
Nhưng khi đã mang lúa về nhà phơi khô để cất giữ được gọi là thóc
tục ngữ "Thóc lúa về nhà, lợn gà ra chợ".
Chủ yếu có hai loại: lúa tẻ và lúa nếp. Lúa tẻ nấu thành cơm dùng trong bữa ăn hằng ngày, còn lúa nếp nấu thành xôi dùng vào dịp lễ,. Lúa nếp ngon hơn lúa tẻ:
tục ngữ "Đắt lúa tẻ, rẻ lúa nếp 
2/  Các từ gọi tên sản phẩm tách từ hạt lúa ra: cám, tấm, trấu, gạo, bột
   tục ngữ, trai về nhà bốc cám rang";
                    "No cơm tấm, ấm ổ rơm";
                "Trấu trong nhà, thả gà đi đâu
                “thóc gạo về ngài, tấm cám về tôi"; 
                 "Có bột mới gột nên hồ"; "
3/- Các từ gọi tên thực phẩm chế biến từ hạt lúa : cơm, xôi vò, xôi gấc, cháo
tục ngữ  "No cơm ấm áo"; "No cơm ấm cật".
              "Cơm tẻ no, xôi vò chẳng thiết"
              "Ăn mày đòi xôi gấc"
              “Cơm hàng cháo chợ, ai lỡ thì ăn".
4/- Các từ gọi tên  kiểu cơm do cách nấu: cháo. bánh đúc, bánh chưng
tục ngữ  "Cháo nóng húp quanh, công nợ trả dần"; "Ăn cháo đái bát
                 "Bánh đúc bẻ ba, mắm tôm quệt ngược cả nhà tan hoang"; "
              "Ăn chực đòi bánh chưng" 
5/-- Các từ gọi tên  các công cụ biến lúa thành thóc thành gạo,:
                          chày, cối, cối xay, dần, nia sàng
tục ngữ  : "Khôn khéo vá may, vụng về chày cối";
                "Nhác đâm thì đổi chày, nhác xay thì đổi cối"; 
                 "Hát khi xay lúa, múa khi tối trời";
                 "Xay thóc có chàng, việc làng có mõ". 
 Ca dao                  "Ra đường ông nọ bà kia, 
                            về nhà chẳng khỏi cái nia cái sàng". 



6/- Các từ gọi tên  đơn vị đo lường : lượng cơm trong bát,
         Ca dao : "Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng, 
                        uống nước cầm chừng để dạ thương ai".



2- Các thời kì phát triển của cây lúa 
  Cây lúa có quá trình phát triển khoảng bốn tháng.
 1/-, Lúa được gọi bằng những tên khác nhau:
                      Giống, mạ (má), lúa con gái, lúa dậy thì, lúa chín. 
Tục ngữ  về  Giống: "Nhất nước nhì phân, tam cần tư giống, 
                                  Muốn ăn lúa phải tìm giống"; 
Tục ngữ  về  Mạ:    - "Mạ chiêm đào sâu chôn chặt
                                 mạ mùa chôn chặt mà đi"; 
                              - "Trồng khoai đất lạ, gieo mạ đất quen"; 
                              - "Mạ già ruộng ngấu";
                              - "Mạ mùa sướng cao, mạ chiêm ao thấp";
                               -Trâu lên mạ xuống".



  2/- Lúa được gọi bằng những tên từng thời kì phát triển
    a/- Lúa bắt đầu phát triển
    Tục ngữ    "Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
                      hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên";
      b/- Lúa trổ bông: 
    Tục ngữ    "Lúa trổ mâm xôi, dẫy nồi chồng vợ";
     c/- Lúa chín:
     Tục ngữ    "Lúa chín hoa ngâu đi đâu chẳng gặt"; 
                     Rơm, rạ: "Lửa gầm rơm lâu ngày cũng bén"; 
                    "Ôm rơm dặm bụng"; 
                     "Lúa giỗ ngã mạ, vàng rạ mạ xuống".



    3/- Lúa vào thời kì gặt xong,
         Phần trên cây lúa phơi khô thì gọi là rơm. phần dưới thì gọi là rạ hay gốc rạ



3- Các từ gọi tên thời tiết, thời vụ gắn với việc trồng lúa 
Thời tiết 
a/ -  Thời tiết ảnh hưởng lớn đến việc trồng lúa. Đó là kinh nghiệm trông sao và trăng:
 Tục ngữ về sao Rua 
        "Sao rua đứng trốc, lúa lốc được ăn"; 
"Tua rua một tháng mười ngày, c
ấy trốc luống cày cũng được lúa xôi"; 
"Tua rua bằng mặt cất bát cơm chăm,
 tua rua đi nằm, cơm chăm đã cạn" 
Tục ngữ  về trăng: 
"Muốn ăn lúa tháng năm trông trăng rằm tháng Tám"; 
"Muốn ăn lúa tháng mười trông trăng mồng tám tháng tư";
 "Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu"; 
"Trăng mười bốn được tằm, 
 tỏ trăng hôm rằm thì được lúa gieo". 



   b/  Kinh nghiệm về thời tiết mưa nắng, sấm, chớp, gió để biết trước mất mùa    hay được mùa: 
Tục ngữ  về nắng, mưa:
              "Nắng tốt dưa mưa tốt lúa";
               "Mồng tám tháng tám không mưa bỏ cả cày bừa mà nhổ lúa đi"; 
           "Mồng chín tháng chín không mưa, mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng,
             Mồng chín tháng chín có mưa, mẹ con bán cả cày bừa mà ăn"; 
            "Tháng Tám mưa trai tháng hai mưa thóc"; 
Tục ngữ  về sấm: 
            "Tháng mười có sấm cấy trên nấm cũng có ăn"; 
             "Lúa chiêm đứng nép đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên"; 
Tục ngữ  về gió:
                 "Trời nồm tốt mạ, trời giá tốt rau";
               "Gió đông là chồng lúa chiêm, 
              «  gió bấc là duyên lúa mùa". 



4. Các từ ngữ gọi tên thứ tự việc canh tác. 
-Tục ngữ  "Nhất nước nhì phân, tam cần, tứ giống"
                      "Nhất ruộng, nhì mạ, thứ ba canh điền";
                   "Cày cấy, bón phân phải kể anh phạt bờ cuốc gốc". 



5. Các từ ngữ về cách thức làm đất  : đất ải, đất dầm ngấu
Tục ngữ  "Đất không ải, rải thêm phân":
       "ải bở chồng con ở, ải sượng chồng con đi"; 
       "Một cục đất ải bằng một bãi phân"; 
       "Cày ải hơn rải phân". 



Tục ngữ  "ải thâm không bằng dầm ngấu";
         "Thứ nhất phân ngấu, thứ nhì ngấu tươi", 



6. Các từ ngữ về cách thức làm cỏ:
 Nói đến làm ruộng là phải diệt sạch cỏ:
Tục ngữ  "Ăn cơm làm cỏ chẳng bỏ đi đâu";
               "Một búi cỏ, một giỏ thóc";
               "Một lượt cỏ, thêm một giỏ thóc". 



7. Các từ ngữ về cách thức cày, bừa
Tục ngữ  "Cày cạn khoẻ trâu, cày  sâu tốt lúa";
       "Cày gãi bừa chùi, lúa thui thóc lép
       Cày sâu bừa kép, lúa đẹp bông sây";
      "Cày sâu làm đầu lúa tốt"; 
      "Thứ nhất cày nỏ thứ nhì bỏ phân". 
Tục ngữ  về Cày bừa theo vụ mùa
                 "Chiêm đi đơn, mùa đi kép".
Tục ngữ về kiểu cày chưa đúng cách:
                    "Cày sưa bừa mệt"; 
                 "Cấy sáng cấy tối, gặp phải 
                 “chân bừa dối toi ăn". 



8. Các từ ngữ về đi cấy
Tục ngữ "Chẳng cấy lấy đâu có thóc, chẳng học lấy đâu có chữ 
"Cấy bằng mặt, gặt bằng đầu".
 "Cấy thưa thừa thóc, cấy dày thì cóc được ăn 
"Gié thừa cấy nỏ, chiêm thừa bỏ đi";
"Vụ mùa cấy lúa cao, vụ chiêm cấy lúa trũng". 
 "Lúa mùa thì cấy cho sâu, 
lúa chiêm thì gửi cành dâu cũng vừa"; 



9. Các từ ngữ về  tưới nước cho ruộng: 
Tục ngữ 
"Đất điền đất thổ, ruộng cao tưới trước, ruộng thấp tưới sau"; 
"Không nước không phân chuyên cần vô ích"; 
"Làm ruộng thì phải đắp đìa, vừa dễ giữ nước, khi về dễ đi";
 "Làm ruộng thì phải đắp bờ, may cờ thì phải viền đường mép". 
"Cao bờ thì tát gàu dai, gàu sòng chỉ tát được nơi thấp bờ". 



10.  Các từ ngữ về  gặt lúa
Khi lúa chín, người nông dân thường dùng hái, liềm (còn gọi là A, vì nó có hình giống như chữ A): 
Tục ngữ     "Lúa phơi màu, trông nhau liềm hái";
          "Cắt rạ thì dùng bằng A, quét nhà thì dùng bằng chổi



11.   Các từ ngữ về  so sánh 
a/    thóc gạo là thước đo tính giá trị trong lời nói:
 Tục ngữ  "Lời nói quan tiền thúng thóc". 
 b/   Thóc gạo được coi là thước đo nhiều giá trị khác nhau trong xã hội. 
Tục ngữ     "Ông tiền ông thóc, ông cóc gì ai";
                   "Bà tiền bà thóc, bà cóc gì ai"; 
                  "Không tiền không gạo mạnh bạo gì thầy";
                  "Không tiền không gạo mạnh bạo xó bếp"; 
                  "Ngồi đống thóc, móc đống tiền". 
c/  Thóc gạo là thước đo sự giàu nghèo: 
Tục ngữ  "Khen nhà giàu lắm thóc"; 
                 "Con học, thóc vay". 
                "Chứa tiền chứa thóc thì giàu"; 
                "Làm ruộng không trâu, làm giàu không thóc"; 
                    "Chứa tiền chứa thóc thì giàu"; 
                "Nhà giàu mua vải tháng ba, bán gạo tháng tám mới ra nhà giàu"; 
                "Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc 
d/   Cuối cùng, thóc gạo còn là thước đo sự khôn dại:
Tục ngữ  "Mạnh vì gạo bạo vì tiền 
               Không tiền cũng dại, dại như chó có ló cũng khôn"; 



12-  Các từ v ề đơn vị đong thóc 
Tục ngữ  "Ba thưng cũng vào một đấu"; 
"Đấu hàng xáo, gáo hàng dầu";
 "Được vài đấu thóc khấn trời làm mưa". 



13-   Các từ v ề đựng 
a/  đựng lúa, gạo: bồ, cót, bát, giỏ, thúng , lẫm đống, bè, bị, thuyền.
Tục ngữ  
: "Tháng giêng ăn nghiêng bồ thóc";
bồ còn thóc hết"; 
"Thóc cót thóc bồ"; 
"Thóc gạo đầy bồ cũng nhờ anh phạt bờ cuốc góc";
 "Dòm giỏ bỏ thóc";
 "Một lượt cỏ, một giỏ thóc"; 
"Cày sâu cuốc bẫm, thóc đầy lẫm khoai đầy bồ";
 "Nắm cỏ giỏ thóc"; 
"Lời nói thúng thóc, lời nói dùi đục cẳng tay";
  b/  đựng cơm trong bữa ăn cơm bằng bát, chén, đọi, môi, thìa..., 
Tục ngữ   "Có bát mát mặt;
                 “Lớn bát cơm to bó lúa";
                  "Một nút lạt một bát cơm";
                  "Cơm ba bát áo ba manh";
                  "Ngồi mát ăn bát đầy,
                  “lầy cầy không đầy bát";
 "                “Sợ bát cơm đầy không sợ thầy to tiếng";
                   "Ăn cháo đái bát"; 
                   "Bớt bát cơm mặt còn hơn nợ nần";
                   "Một quả cà bằng ba chén thuốc"; 
                   "Một chén thuốc ta bằng ba chén thuốc tàu"; 
                   "Lời nói đọi máu"; "Ba voi không được đọi xáo". 
c/  đựng chứa người, vật: giỏ bồ đống bè bị thuyền
Tục ngữ   "Một giỏ sinh đồ, 
      “một bồ ông cống, 
       một đống ông nghè,
       một bè tiến sĩ,
       một bị trạng nguyên,
       một thuyền bảng nhãn". 



III-Vai trò con Trâu trong  nền văn hóa nước 
Nói đến nông nghiệp  lúa nước, hình ảnh con trâu xuất hiện.  Trâu là một động vật có vú và thích nghi với hệ thái sinh thái đầm lầy. Cỏ hoang chung quanh đầm lầy là thức ăn hàng ngày của chúng. Loại trâu thường thấy hiện nay là loại trâu nhà. Chúng là hậu duệ của trâu rừng vốn sinh sống vùng đầm lầy Đông Nam Á nhiệt đới gió mùa.  Đầm lầy là nơi sinh sống của loại trâu và cũng là quê hương của Lúa nước. Sống bằng  gạo thóc sản phẩm của lúa nước, dân  Việt thuần hóa loại trâu để dùng vào việc chuẩn bị  đất  ruộng  trồng lúa và  đập lúa. Trong khung  cảnh đồng quê  người và trâu gắn bó với nhau như hình với bóng:  
Ca dao: 
Ai ơi cùng vợ cùng chồng
 chồng  cày vợ cấy con trâu đi bừa 
Trâu đã cùng với con người Việt  một nắng hai sương, sớm hôn tận tuỵ với nền văn minh lúa nước. Trâu giúp con người tạo dựng đời sống vật chất, cùng với con người chịu đựng nắng sớm mưa chiều, những giọt mồ hôi tưới trên đồng xanh :
 Ca dao: Trâu ơi ta bảo trâu rằng  
   Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
   Cái cày nối nghiệp nông gia 
    Ta đâu trâu đó ai mà quản công..
 Trâu giúp người sản xuất lúa gạo. Dù vất vả nhọc mệt lao động, trâu không  hưởng sản phẩm lúa gạo mà dành cho con người thu huởng, trâu  chỉ tiếp tục ăn cỏ hoang mà thôi:
 Ca dao 
 Bao giờ cây lúa đâm bông 
 thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. 
Con trâu là đầu cơ nghiệp.  Muốn dựng nghiệp phải tậu trâu. Tậu trâu là một  trong ba việc khó nhất của nhà nông :
Ca dao
          Tậu trâu, cuới vợ làm nhà, 
        Trong ba việc ấy  lọ là  khó thay !
Vì trâu gắn bó với ngưởi để sản xuất lúa gạo, nên con người tha  thiết  coi sóc trâu,  vui  thú với trâu khi nhàn rỗi
Quốc văn Giáo Khoa Thư
 Ai bảo chăn trâu là khổ ?  Chăn trâu sướng lắm chứ. Ngồi trên mình trâu, đầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre nhu roi ngự, tai nghe chim hót trên cành cây, mắt trông bướm lượn trong đám cỏ xanh . 
Ngoài sự cộng lực  làm nên của cải, trâu còn chia sẻ niềm vui thanh thản trong những chiều nhàn hạ, gợi lên khúc ca hồn nhiên đầy thi vị làm phong phú hóa cánh đồng thi ca miền quê : 
Ca dao
bao giờ dồng ruộng thảnh thơi
nằm trâu thổi sáo vui đời Thuấn Nghiêu
Bà  Huyện Thanh quan cảm kích tình gắn bó giữa người và trâu  trước cảnh chiều hôm, mục đồng gõ sừng trâu hồn nhiên ca hát  trên đường đưa trâu về chuồng mà có câu thơ :
Gác maí ngư ông về viễn phố,
 gõ sừng  mục tử  lại cô thôi 
Chăn trâu là khổ  thì làm sao có người đồng tình ca  ngợi  chăn trâu hết lời bằng  những giai điệu mượt mà, thướt tha : 
Ai bảo chă n trâu là khổ ? Chăn trâu sướng lắm chứ, Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao… Nằm đầu non gió mát.. Khoai  lùi bếp nóng ngon hơn là vàng (   B ài ca Em bé quê  của Phạm Duy,)



. IV-   Lễ Hội liên hệ với  văn hóa Lúa Nước 
Dân Việt là một dân tộc  sống bằng nghề nông lúa nước . Vì vậy cứ đầu mùa xuân, vua đại diện  nhân dân  ngự đến  Đàn Xã Tắc  để tế tự các thần đất, thần sông , thần lúa cùng thần tứ thời,  Thổ Thần và Cốc Thần. Tại các tỉnh, cũng có Đàn Xã Tắc, các quan Bố Chánh thay mặt vua hành lễ. Lễ nghi tế tự đèu theo điển lễ  do Chu Công và Khổng Tử quy định
Khi tế xã tắc xong, thì một quan khâm mạng  cầm cầy để cầy một luống ở  sở tịch điền  ngõ hầu  làm hiệu mở đầu nông vụ.  Sau lễ  mở đầu nông vụ,các dân làng Việt lần lượt tổ chức các buổi lễ hội để kỷ niệm và đánh dấu nông vụ. Các lễ hội thường diễn ra từ tháng giêng  đến tháng ba trong mùa xuân hoặc vào tháng  bảy  tháng tám trong mùa thu, vì hai mùa này  là những thời tiết quan hệ đến mùa màng trong một năm. 
Trong các lễ hội này thường có việc tế tự. Lễ hội nào cũng có việc tế tự dưới hình thức cầu đảo với Trời cho mưa thuận gío hoà. Tế Tự  để cám ơn Trời và cầu đảo để Trời thương . Chung chung thì lễ hội nào cũng có những  nghi lễ :  cúng bái, dâng lễ vật, và rước kiệu, rồi sau đó có các trò chơi.    Lễ hội nào cũng là dịp thi các thổ sản của  nông nghiệp



Kết thúc bài Khảo Cứu
     Mong sao  các quí vị người Việt hải ngoại nhớ đến cội nguồn của mình là người Việt . Một khi  nhớ đến cội nguồn  của mình, thì nên  quí trọng cái hay cái đẹp của văn hóa  mình, mà  giữ lấy, mà  vun trồng văn hóa đó cho các thế hệ con cháu mình ở hải ngoại mai sau.   Ngôn ngữ Việt  là khởi điểm của Văn hóa Việt  vì có biết ngôn ngữ mình (biết nói và biết viết  ngôn ngữ ) thì các thế hệ mai sau  ở hải ngoại mới có thể đọc được  các tài liệu văn hóa Việt  trên các báo chí, sách vở, biết thảo luận các đề tài văn hóa Việt với nhau hay với các học giả yêu nước. Về tài liệu văn hóa Việt, các quí vị  có thể tự đọc hoặc chỉ bảo cho các con cháu đọc trong các sách vở, website. Đặc biệt website  www.vanhoaviet.info là một website  chú trọng vào đủ mọi dạng  của văn hóa Việt trong mọi lãnh vực. Nếu muốn tìm hiểu nội dụng Văn hóa thì xin đọc  Trang  Phổ Biến. Nếu muốn  tìm hiểu  mục niềm tự hào  xin đọc Trang  Niềm Tự Hào, Nếu muốn tìm hiểu   mục nỗi lo âu thì xin đọc Trang  Nổi Lo Âu, Nếu muốn tìm hiểu  mục văn nghệ 
thì xin đọc Trang Văn Nghệ.  Mong thay !